Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2016

CHÚNG TA LÀ BẠN

Mời các bạn đọc bài: "KHOẢNH KHẮC CHIẾN TRANH VIỆT NAM & NỖI ÁM ẢNH ĐỐI VỚI MỘT CỰU BINH HOA KỲ". Cảm ơn anh Trung Hiếu/VOV.VN đã dịch bài này ra tiếng Việt. Tôi đã có trong tay tờ báo PHILADELPHIA INQUIRER, con gái gửi về, từ Philadelphia. Bài đăng trên trang nhất với tiêu đề (nguyên văn tiếng Anh): "45 YEARS AFTER VIETNAM WAR: ONCE ENEMIES, NOW FRIENDS" tạm dịch: "Cách đây 45 năm trong cuộc chiến tranh Việt Nam (năm 1970): chúng ta là kẻ thù của nhau, nay chúng ta là bạn "
"Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời" (Nguyễn Du)
Người cựu binh Mỹ từng trải qua những khoảnh khắc ám ảnh trong Chiến tranh Việt Nam không ngờ có dịp được gặp lại người bên kia chiến tuyến. Thập niên 70, MR Murphy bảo vệ sân bay Chu Lai (Việt Nam gọi là sân bay nước mặn) Quảng Nam. Đơn vị tôi chiến đấu bảo vệ sân bay Khâm Đức huyện Phước Sơn tỉnh Quảng Nam. Tôi đã có bài tường thuật (trên FB) về cuộc gặp mặt vô tiền khoáng hậu này với tiêu đề: "CHÚNG TA LÀ BẠN"
CHÚNG TA LÀ BẠN
Vào khoảng thời gian này năm ngoái (2014), lần đầu tiên tôi gặp Mr Dennis Murphy qua mạng Interrnet, theo ý nguyện của con gái
Mr Dennis Murphy, nguyên là lính thủy đánh bộ Mỹ bảo vệ sân bay Chu Lai (năm 1969). Hiện là Giáo sư Giám đốc tuyển dụng & Đào tạo, trường Rosemont College, Philadelphia, Pennsylvania (nơi con gái tôi đang theo học lấy bằng Thạc sĩ), vợ ông đã nghỉ hưu, 3 người con đã kết hôn, có nhà riêng. Qua con gái, Mr Murphy biết tôi là CCB Việt Nam (trong hồ sơ của con gái, không có dòng nào ghi về đời lính của tôi ở chiến trường), ông ngỏ lời mong được gặp tôi trên mạng Interrnet (Skype). Chúng tôi hẹn gặp nhau vào lúc 22 h (giờ Việt Nam), ngày 24/12/2014. Cuộc trò chuyện diễn ra (hơn một tiếng đồng hồ) rất thú vị giữa tôi (CCB Việt Nam) và Mr Murphy (CCB Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam). Sau lời mừng năm mới và cái bắt tay qua mạng. Ông chủ động đặt câu hỏi (người Mỹ là vậy, thực dung, không hình thức màu mè):
- Đang là sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội, động cơ nào thôi thúc ông trở thành người lính ?
- Tôi muốn nghe kể về cuộc hành quân trên đường Trường Sơn “huyền thoại” mà ông đã từng đi qua, từ thập niên 70 ?
- Kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông về đời lính (1970- 1975) ?
Tôi trở thành người lính vì lòng tự trọng, bổn phận, nghĩa vụ của một công dân khi đất nước có chiến tranh. Nếu được chọn tôi sẽ chọn “cầm bút” thay vì buộc phải “cầm súng”. Tôi đã thực hiện được điều này ngay sau khi đất nước thống nhất (30/4/1975).
Đường Trường Sơn “huyền thoại” còn có hai tên khác: Đường Hồ Chí Minh và Đường dây 559. có hai đường chính: Đường dành cho xe cơ giới, chở vũ khí và khí tài quân sự vào Nam, Đường giao liên, dành cho người đi bộ. Trên con đường này những đoàn quân nối nhau ra trận, chiến đấu, giành Độc lâp, Tự do, thống nhất Đất nước.
Tôi thống kê về trang bị cá nhân cho người lính gồm: Một khẩu AK 47 kèm 3 băng đạn, Ba lô con cóc đựng quân tư trang (võng tăng, màn, quần, áo, áo che mưa...,Túi phòng chất hóa học, 10 kg gạo tổng cộng khoảng 30 kg). Tôi kể về cuộc hành quân gian khổ, trèo đèo, lội suối, băng rừng, dầm mưa, dãi nắng, uống nước suối, ăn rau rừng (rau tàu bay), ăn củ mài, củ sắn…rất, rất nhiều người lính bị sốt rét; có người bị sốt rét ác tính chết trên võng cáng, khiêng về đến bãi khách mới biết, có ngưới sốt rét không đi được rẽ ngang vào rừng mắc võng nằm nghỉ và “ngủ” mãi mãi; mối đùn lên thành nấm mồ…
Để khỏi phải viết dài dòng, tôi trích một đoạn hồi ký RA BẮC: “…Trên đường ra Bắc, những đêm dừng chân tại Binh Trạm, nằm võng ở bãi khách, Trạm giao liên giữa rừng Trường Sơn. Tôi miên man nhớ lại mùa khô cách đây 4 năm (11/1971), đơn vị bắt đầu hành quân bộ từ Quảng Bình theo đường dây 559 vào B2 Quân khu V. Những ngày hành quân, qua rất nhiều bãi khách, Trạm giao liên, Binh trạm. Khoảng 5 tháng trèo đèo lội suối, băng rừng, trãi qua những cơn sốt rét, mưa rừng. Chúng tôi đã đi qua những địa danh có cái tên nghe rất lạ: Xê bang hiêng, Ngầm X7, Se Ca Mán, Sê Công (Nậm Bạc) Huội vi, Pắc xòong, Pắc Xế, A Ta Pư, cao nguyên Bo Lô Ven … vào một buổi chiều cuối mùa mùa khô năm 1971. Mùa khô rừng Trường Sơn, gió Lào thông thốc thổi, những thân hình gầy gò ốm yếu, mắt trủng sâu, môi thâm, do sốt rét; mưa rừng…, dường như không đủ sức mắc võng, căng tăng, nằm co quắp trên võng, dưới những gốc cây khộp, cây săng lẻ già … “
Ngày 27 tháng 7 năm 2015, Mr Dennis Murphy tiếp gia đình tôi (lần thứ 2) tại Trường Rosemont College. Cuộc hội ngộ vô tiền khoáng hậu có thể nói là diệu kỳ của hai CCB cách xa nhau nửa vòng trái đất. đã từng là kẻ thù của nhau. Chúng tôi bắt tay ôm chầm lấy nhau như người thân lâu ngày gặp nhau nơi đất khách quê người. Ông kế về trận đánh ở sân bay Chu Lai năm 1970. Trong số 81 người chết và bj thương, ông đã 5 lần bị thương phải chuyển sang Nhật điều trị. Ông đặt hai tay lên ngực, rồi lại giang ra, trên khuôn mặt hồng háo đôn hậu của ông nở một nụ cười rất tươi và thốt lên "Chúa đã cứu tôi"
Theo lệnh của thượng cấp chúng tôi đi tham chiến ở Nam Việt Nam để bảo vệ hòa bình, Tự do trên thế giới, ngăn chặn, tiêu diệt Chủ Nghĩa Cộng sản (CNCS). Trong cuộc chiến ở Việt Nam người Mỹ đã thất bại, ông khâm phục lòng dũng cảm, trí thông minh của người Việt Nam.
Theo thiển ý của tôi cả hai bên đều thất bại. Nếu (lại nếu) năm 1963 cố Tổng thống Ken nơ đi không bị ám sát. có thể ông đã rút quân Mỹ (hồi ấy mới chỉ là cố vấn, phái đoàn quân sự MAAG) về nước; thì Hoa Kỳ đã không bị “hội chứng Việt Nam”. Có thể ông Ken nơ đi hiểu lich sử Việt Nam, từ xưa đến nay chưa bao giờ chịu khuất phục trước các thế lực bên ngoài.
Chúng tôi nói về tình hình căng thẳng ở biển đông do Trung Quốc gây ra ? Tôi và Mr Murphy nói về cái “ lệnh” của thượng cấp “ngăn chặn, tiêu diệt Chủ Nghĩa Cộng Sản”. Tôi cũng không biết từ “Cộng Sản” do ai đặt ra, có từ năm nào; nhưng tôi cảm thấy nghĩa của nó mơ hồ, không rõ ràng, trong Từ điển chắc là không có từ này.
Ngày 1/7/1921 được coi là ngày kỷ niệm thành lâp ĐCS TQ. Những năm đầu khi còn Vương Minh Ủy viên Quốc tế Cộng Sản, Bác Cổ Tổng bí thư, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Theo thiển ý của tôi họ vẫn chỉ là những người “rập khuôn” Chủ nghĩa Mác; tôi tạm gọi là "CN Mác chính hiệu" (có nhiều người người gọi là CN Mác chân chính, CNCS chân chính,...). Thời Mao Trạch Đông đưa ra Chủ nghĩa Mao (Mao ít). Chính Mao đã nói với Vương Minh: Chủ nghĩa Lê Nin không thể áp dụng vào Trung Quốc. Đến thời Đặng Tiểu Bình theo chủ thuyết “Mèo trắng, mèo đen miễn là bắt được chuột”. Hồi ấy ĐCS Việt Nam cho rằng ĐCS TQ phản bội Chủ nghĩa Mác, theo đuôi Mỹ.... Đến thời Giang Trạch Dân lại đưa ra thuyết “Ba Đại Diện”.Thời Hồ Cẩm Đào có có chủ thuyết Xã hội "hài hòa ". Thời Tâp Cận Bình là chủ thuyết “Bốn toàn diện"; Việt Nam chúng tôi có CN Mác- Lê- Nin, Tư Tưởng Hồ Chí Minh…
Ông đứng dậy bắt tay tôi và kết luận: "CHU NGHIA CONG SAN" (bốn chữ này ông nói tiếng Viêt) theo tôi thực chất chỉ còn trên danh nghĩa". (con gái tôi dịch nguyên văn "CNCS chỉ còn cái tên").
Tôi kể về trận chiến đấu ở chốt Du Tự Bình Định, vợ tôi nói về người anh ruột của mình đã hy sinh năm 1972 đến nay vẫn chưa tìm thấy mộ. mặc dù đã hơn 47 năm, vợ chồng tôi cũng đã đi tìm. Ông nói với tôi cuộc gặp mặt kỳ diệu (từ ông dùng) này, đã làm cho ông giảm đị phần nào mặc cảm về Việt Nam. Ông nâng ly đề nghị kết bạn với tôi, ông goi tên tôi bằng tiếng Việt “Mr Bạn Nguyên Xuan Thu”.
Tôi tặng ông một cái mũ mềm gắn ngôi sao vàng 5 cánh, bộ quân phục của người lính năm xưa, cuốn sách “Nỗi Buồn Chiến Tranh” (song ngữ) của Bảo Ninh, cuốn “Điểm Bưu điện-Văn Hóa xã” do tôi viết.
Tôi viết tặng với tựa đề bằng tiếng Anh và tiếng Viêt: “Vietnam And USA The Friends, Việt Nam và Hoa Kỳ là Bạn” và dòng chữ:
Nguyễn Xuân Thu CCB Việt Nam Tăng Mr Dennis Murphy CCB Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.
Lần thứ 3 ngày 9/8/2015 tôi nhớ, trước một ngày gia đình tôi bay đi Chicago. Ông đưa xe đến tận nhà đón gia đình tôi về tư dinh của mình cách nơi con gái tôi trọ học chừng 30 km. Trên đường về ông giới thiệu đây là vùng giàu nhất Philadelphia. Từ nơi này tướng Wasington đã tiến quân đánh chiếm Philadenlphia (Thủ đô cũ của Hoa Kỳ) thống nhất đất nước, ông là vị tướng lên làm tổng thống Hoa Kỳ…
Vợ tôi vừa bước ra khỏi xe, bà Ms Murphy (vợ Mr Murphy) ôm chặt vợ tôi vào lòng. Nhìn thấy cảnh tượng hai bà mẹ cách nhau nửa vòng trái đất, tươi cười nắm tay nhau đi vào nhà, tôi có cảm tưởng như họ đã thân nhau từ rất lâu rồi. Bà dẫn chúng tôi đi giới thiệu từng phòng: Phòng làm việc, phòng khách, phòng bếp…tất cả đươc sắp xếp rất khoa học, gọn gàng và đẹp mắt. ông mỉm cười chỉ vào người vợ của mình: được như vậy là nhờ đôi bàn tay khéo léo của bà ấy. Ông tặng tôi huy hiệu của CCB Hoa Kỳ, một mũ mềm, bộ quân phục lính thủy đánh bộ Mỹ Vợ ông tặng vợ tôi một cái nghiên bút bằng pha lê Tiêp (như lời bà giới thiệu) của một người bạn châu Âu tặng. Gia đình tôi tặng gia đình ông bức tranh thêu: Làng Cổ Việt Nam (Cổng làng, cây đa giếng nước). Chúng tôi chụp ảnh chung làm kỷ niệm. Tronh bữa tiệc ông, bà nâng ly chúc sức khỏe mọi người, hẹn sẽ sang thăm Việt Nam và đến thăm gia đình tôi.
Sau bữa tiệc, vợ ông ra xe đưa tận tay vợ tôi chai rượu vang Acgentina ông mỉm cười nói thay bà, của một sinh viên Acgentina tặng tôi cách đây 15 năm, đây là loại vang ngon nhất của Acgentina, tôi xiết chặt tay ông, nói lời cảm ơn ông, bà bằng tiếng Anh Thank you.
Gia đình tôi cùng 4 thành viên gia đình ông đến Đài tưởng niệm Dalaware dự lễ thượng cờ, tưởng niệm CCB Hoa Kỳ (có năm CCB Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam) của nhiều nước đã hy sinh trong các cuộc chiến mà Hoa Kỳ tham gia trên thế giới. Cũng là nơi đặt di hài mẹ vợ của Mr Dennis Murphy, vừa qua đời cách đây không lâu. Tên của họ được khắc trên tường, mộ của mỗi người được khắc tên trên một viên (phiến) đá lát đường đi trong khuôn viên Đài tưởng niệm.
Đài tưởng niệm Dalaware tọa lạc trên khuôn viên rộng chừng 10.000 m 2, rất đẹp và khang trang. Do một triệu phú bỏ tiền ra xây để tri ân tưởng nhớ những CCB Hoa Kỳ đã hy sinh vì Đất nước Hoa Kỳ thịnh vượng và yên bình.
KỶ NIỆM ĐÁNG NHỚ NHẤT CỦA TÔI VỀ ĐỜI LÍNH (1970- 1975)
"Ngày 30/4/1975 có triệu người vui, triệu người buồn…
Cao điểm Du Tự (chốt Du Tự huyện An Lão Bình Định) cũng với cao điểm 174 núi Chéo, Đèo Nhông, sân bay dã chiến Phù Cát; tạo thành vành đai thép bảo vệ Bình Định của đối phương. Du Tự là chốt chặn quan trọng nhất. Cho nên đêm nay của ta thì đêm mai là của đối phương; tuần này là của ta thì tuần sau của đối phương và ngược lại. Có lần Đại tá Tỉnh Trưởng Bình Đinh đã đích thân trực tiếp chỉ huy chiếm lại, cũng đủ biết nó quan trọng như thế nào ?
Chính vì vậy nên hai bên thay nhau nã pháo vào đây (ta chiếm thì đối phương liên tục dập pháo và ngược lại). Tất nhiên hỏa lực pháo của ta không đáng kể (tôi đoán chừng Sư đoàn 3 Sao Vàng chỉ có khoảng 5 khẩu 105 ly) so với đối phương. Khi pháo kích với mật độ dày đăc, gần như liên tục như vậy; xác chết của hai bên tung lên khỏi mặt đất không biết bao nhiêu lần, rơi xuống vùi sâu vào trong đất, tạo ra quanh chốt một lớp bụi đất dày 1,5 m, Đến mùa mưa trở thành lớp bùn như một nấm mồ vùi toàn bộ xác chết của hai phía. Mùi hôi thối của xác chết (xin cho tôi gọi như vậy) mới và cũ lâu ngày, mùi tanh của máu tươi tạo thành một thứ mùi cực kỳ khó chịu, hít vào là bị nôn, mửa, người lính giữ chốt phải dùng nước hoa đổ vào khăn tay bịt vào mũi, lúc thức, lúc ăn cơm và cả khi ngủ. Họ luôn luôn phải trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu khi đối phương tiến công hoặc pháo kích. Chúng tôi gọi Du Tự là cái “cối xay” thịt.
Chốt Du Tự nấm mồ của người lính cả hai phía. Đâu có phân biệt ai với ai, họ cùng con Lạc cháu Hồng. Ôi chiến tranh bên nào thắng thị nhân dân đều bại…
Ngày 30/4/1975, có triệu người vui, có triệu người buồn. Chúng ta đã làm bạn với nhiều nước trên thế giới, với Trung Quốc chúng ta có 4 tốt, 16 chữ vàng. Với Hoa Kỳ chúng ta đã hợp tác toàn diện, nhưng hòa giải và hòa hợp dân tộc là tình cảm, tình yêu giữa người với người "Từ đây người biết yêu người..." đã 40 năm rồi, chúng ta với nhau (54 dân tộc) vẫn chưa hòa giải được.
Mong sao thế hệ sau năm 30/4/1975 không gọi đối phương là "Ngụy", Họ cũng chỉ là người thực thi nhiệm vụ của cấp trên, làm đúng bổn phận của công dân đối với "Tổ quốc". Chiến tranh nghiệt là thế một cuôc chiến tranh huynh đệ tương tàn, nước mắt của mẹ khóc vì những đứa con... người mẹ Việt Nam...Tôi rất nhớ một câu thơ của Uýt Man
“Hãy nổi kèn lên tung hô đoàn quân chiến thắng trở về!
Hãy nổi kèn lên chúc mừng những người thua chết chìm dưới đáy biển sâu!”
Tướng Trần Văn Trà nói “Trong cuộc chiến đấu lâu dài này không có ai là kẻ thắng ai là kẻ bại. Toàn quân và toàn dân Việt Nam là người chiến thắng..,"
Đêm 5 tháng 1 năm 1974, Tôi là một trong 4 người được lệnh đi chi viện cho chốt Du Tự (vòng ngoài) để giải quyết hậu sự. Chúng tôi hối hả (vội vàng thì đúng hơn) do sợ bị đợt pháo kích tiếp theo của đối phương. Đào 4 cái hố sâu chừng nửa mét chặt cây xếp thành 4 cái cái hòm. đưa di hài đông đội vào túi ni lon, có người đầu lìa khỏi xác, người mất tay, mất chân chỉ có một người còn nguyên vẹn. Dưới ánh ánh sáng tia chớp của bom đạn và pháo sáng tôi kịp nhận ra một cái tên Nguyễn Văn Đạo viết ở mặt sau của xanh tuya, anh là người Thái Bình. Tôi không thể phân biệt ai là anh Đạo chỉ đưa một cách hú họa cái xanh tuya ấy vào một trong 4 túi ni lon. Chôn cất xong chúng tôi vừa rút khỏi được chùng 10 phút thì hàng loạt pháo lại trút xuống phía sau. Trên đường về hậu cứ tôi miên man nghĩ về những đồng đội ngã xuống mãi mãi ở tuổi Hai Mươi. Rất nhiều người chưa được một lần hôn... tôi đã khóc.
Đến nay hòa bình đã 40 năm mỗi lần đọc lại bài thơ "TUỔI HAI MƯƠI" tôi vẫn không sao kìm nén được cảm xúc của mình.
. Bài thơ này tôi làm tại xã Đại Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Sau khi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (mùa khô 1970 - 1971) hồi ấy tôi mới 19 tuổi . Tôi viết chữ đẹp, lại yêu thích văn học nên đươc làm chủ bút tờ báo tường (báo liếp của đại đội). Khi đưa bài này lên báo tường, anh Nguyễn Văn Tiến Chính trị viên phó Đại đội yêu cầu tôi bỏ câu: "Dẫu trong đời chưa được một lần hôn". Tôi nói với anh đây là những câu khẩu hiệu xuống hàng (Súng là vợ, đạn là con, dẫu chết cũng không rời, yêu xe như con, quý xăng như máu...) có một câu rất hay thủ trưởng bắt em bỏ đi tiếc quá...
TUỔI HAI MƯƠI
Tuổi hai mươi tôi là người lính,
Tình bạn tình yêu của tôi là khẩu súng,
Dẫu chết tôi cũng chẳng rời.
Vì kẻ thù còn dày xéo Tổ Quốc tôi.
Ngày mai chúng tôi bước vào trận đánh,
Có thể tôi sẽ chết trước bình minh.
Dẫu trong đời chưa được một lần hôn.
Nhưng trên mồ tôi hoa sẽ mọc lên.
Trước đêm đi tăng cường cho chốt Du Tự tôi đã biết mình đươc ra miền Bắc đi học Trường sỹ quan chính tri thuộc TCCT, QĐND Việt Nam, thời gian 3 năm. Qua cuộc trao đổi giữa anh Lê Đúc Cán (*) Chính tri viên Tiểu đoàn và anh Đinh Văn Hòa (**) Tiểu đoàn trưởng. tôi cũng không nhớ tại sao tôi lại nghe được và nhớ như in lời trao đổi của anh Cán với anh Hòa (đại ý ) Thu đã có danh sách gửi ra Bắc đi học Trường sĩ quan; anh xem việc tăng cường cho chốt Du Tự có thể cử người khác...tôi rất vui khi biết mình được đi học, chỉ thầm mong thoát chết lần này ...
Bạn tôi khẳng định cho tôi là thằng rất dũng cảm tôi thanh thật trả lời: Tao "bị dũng cảm" thì đúng hơn ? Có lần trận địạ pháo của đơn vị chúng bị pháo của đối phương dập cấp tập. Tao sợ quá nhảy sang hầm khác thì ngay sau đó hầm tao vừa nhảy qua bị một quả pháo khoan dập vào, thật hú vía...
(*) Anh Lê Đức Cán quê Bất Lự, Hoàn Sơn huyện Tiên Sơn Bắc Ninh. Cho mãi tới năm 1996 khi chuyển ra Hà Nội làm chuyên viên tai VNPT, tôi đã tìm được anh (qua điện thoại) chủ định sẽ đến thăm gia đình, nhưng con trai anh nói với tôi bố cháu đã mất cách đây gần 4 năm, do bị tai biến mạch máu não. Việc thăm viếng anh cho đến nay tôi vẫn chưa thực hiện được...
(**) Anh Hòa là một tiểu đoàn trưởng được anh em rất quý mến và khâm phục anh về lòng dũng cảm, mưu trí, linh hoạt.cho mãi tới ngày 27 tháng 4 năm 2014 anh em chúng tôi họp mặt Cựu chiến binh Tiểu đoàn cao xạ D 40 B Sư đoàn 3 Sao Vàng do anh tổ chức tại chính ngôi nhà của mình ở xã Xuân Kiên huyện Xuân Thủy Nam Định.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2015

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét